Hàng ngày, hàng giờ, trên  các công trình giao thông đã và đang được xây dựng từ Mục Nam Quan qua đường Hồ Chí Minh trên dải Trường Sơn đến mũi Cà Mau; từ miền Bắc đến miền Trung và sang nước bạn Lào; từ bên bờ sông MêKông vùng hải đảo xa xôi… Tất cả đều có bóng dáng của những cán bộ công nhân viên của Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8. Một Tổng công ty Anh hùng đã đạt được những thành tích xuất sắc hơn 40 năm qua, đã nhận được nhiều phần thưởng cao quý của hai Đảng, hai Nhà nước  Việt Nam và Lào trao tặng.


I. Giúp nước bạn Lào xây dựng và đảm bảo giao thông trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc (1964 – 1975)

          Thực hiện Chỉ thị số 54/TM ngày 1-4-1964 và Chỉ thị 70/TM ngày 23-7-1965 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, hàng vạn cán bộ công nhân viên, thanh niên xung phong đã vượt Trường Sơn sang làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Lào tại các công trường 7B, 8B, 050, 217B, 42B, B1, B2 tỉnh Phong Xa lỳ, Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và một số vùng giải phòng khác, phục vụ cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Ngày 23-7-1965 Bộ Giao thông Vận tải đã quyết định thành lập Ban Xây dựng 64 làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào, nay là Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 (CIENCO 8).
 
          Thời kỳ đầu, nhiệm vụ chủ yếu của Ban Xây dựng 64 là đảm bảo giao thông và mở những tuyến đường huyết mạch từ vùng căn cứ cách mạng ra các mặt trận của nước bạn Lào. Lúc đó, đế quốc Mỹ và nguỵ quyền Viên Chăn đang tăng cường đánh phá ác liệt hòng lấn chiếm vùng giải phóng, nhất là các tuyến đường do Ban Xây dựng 64 đảm nhận công tác bảo đảm giao thông. Chỉ tính trong hai năm 1965 -1966, chúng đã đánh phá hơn 8.000 trận trên khắp các tuyến đường, với hàng vạn quả bom lớn nhỏ có các tính năng khác nhau như bom nổ chậm, bom bi, đạn pháo… Bên cạnh đó bọn phỉ còn ráo riết hoạt động, tập kích đốt phá doanh trại các đơn vị của Ban đang làm nhiệm vụ. Nhưng với tinh thần dũng cảm “Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm” và ý chí “Địch phá ta sửa ta đi, địch lại phá ta lại sửa ta đi và địch phá ta cứ đi”, hơn 600 km đường nối liền căn cứ địa cách mạng Lào với các vùng giải phóng dẫn ra các mặt trận đã được Ban Xây dựng 64 luôn đảm bảo thông suốt, để cho bộ đội, vũ khí, quân trang, quân dụng và lương thực phục vụ cho cuộc kháng chiến được ra mặt trận, lập nên những chiến thắng vang dội ở Nậm Bạc, Pha Thí, Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, Xảm Thông, Loong Chẹng…
 
          Trong cuộc đấu tranh gian khổ ác liệt trên mặt trận giao thông vận tải này, hàng trăm đồng chí bị thương, hàng trăm đồng chí đã ngã xuống trên đất bạn. Nhiều tấm gương còn sáng mãi trong ký ức của mọi người như: 9 liệt sĩ của công trường B142 trong chiến dịch “vượt Sốp ất” năm 1967 đã anh dũng hy sinh trong khi đang mở đường đưa bộ đội và quân trang ra mặt trận. Tiêu biểu như tấm gương liệt sĩ Nguyễn Hải Đường đã dũng cảm xông vào trận địa đang bị địch phong toả rà phá bom mở thông đoạn đường Sốp ất đi Mường Khoa ngày 20-11-1968, để giải cứu cho 150 đồng chí của Đội 428 và 3 xe ô tô chở thương binh từ mặt trận về Việt Nam. Mặc dù sống trong điều kiện chiến tranh vô cùng gian khổ và điều kiện khí hậu vô cùng khắc nghiệt như: thiếu lương thực, thuốc men, sốt rét rừng, giá rét và bom đạn của kẻ thù… nhưng toàn thể CBCNV vẫn kiên cường bám đường, đảm bảo giao thông thông suốt.
 
           Cùng với việc giữ vững mạch máu giao thông vận tải, những người công nhân còn phải sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi. Lực lượng tự vệ của các đơn vị được củng cố và xây dựng vững mạnh. Nhiều đơn vị đã chiến đấu và phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam, bộ đội Pathét Lào, quân dân địa phương bạn, đánh trả quyết liệt các đợt tập kích của địch. Công trường 7B đã tổ chức chiến đấu, bắn rơi một máy bay F105 của Mỹ. Đồng thời, tham gia tiễu trừ bọn phỉ, biệt kích; bắt sống, tiêu diệt và bắn bị thương nhiều tên, góp phần bảo vệ sản xuất, bảo vệ doanh trại đơn vị và bản làng của bạn.
 
           Bên cạnh nhiệm vụ trọng tâm là đảm bảo giao thông phục vụ cho các mặt trận, cán bộ công nhân viên Ban Xây dựng 64, đã khảo sát giúp bạn thiết kế nhiều tuyến đường bộ, đường sông, mở các tuyến đường mới ra mặt trận và xây dựng các công trình chuẩn bị cho việc tái thiết đất nước sau chiến tranh. Năm 1967, Ban 64 đã xây dựng một xưởng ôtô tại Bản Bắc, đây là công trình cơ khí đầu tiên của bạn Lào với công suất 50 xe/năm, đảm nhiệm việc sửa chữa cơ khí giao thông vận tải và quốc phòng thời kỳ chống Mỹ; xây dựng một trường Trung cấp Giao thông vận tải với diện tích 2000m2 tại Sầm Nưa; làm 10 km đường nhựa trong thành phố Viêng Xay - thủ đô của Cách mạng Lào trong kháng chiến; giúp bạn đào tạo hàng trăm cán bộ kỹ thuật, hàng trăm thợ chuyên nghiệp lái xe, lái máy thi công, một đội khảo sát thiết kế và nhiều công trình xây dựng cơ bản khác.
 
           Những hoạt động của Ban Xây dựng 64 đã góp phần đáng kể vào thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Lào, đặc biệt tại các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Phong Xa Lỳ. Khi bàn giao Đường 6 tại Lào ngày 11-3-1983, đồng chí Phầu Bun Na Phổn, Uỷ viên Trung ương Đảng - Bộ trưởng Bộ Giao thông - Xây dựng và Bưu điện Lào đã nói: “Tôi đã thấy rõ tinh thần khắc phục khó khăn, không quản ngại hy sinh gian khổ, tinh thần tận tuỵ, hăng say, coi việc xây dựng cầu đường giúp chúng tôi như công việc của chính các đồng chí Việt Nam. Những tuyến đường này không chỉ được xây dựng bằng mồ hôi, sức lực mà còn bằng cả máu của các đồng chí”. Đáng quí hơn cả là tình cảm của nhân dân các bộ tộc Lào đối với cán bộ công nhân viên, thanh niên xung phong của Ban và gọi bằng cái tên thân mật “Bộ đội 64”. Họ sẵn sàng nhường cơm, xẻ áo và giúp đỡ trong những tháng năm gian khổ, hào hùng trong cuộc kháng chiến giành độc lập của cả hai nước. Lớp lớp cán bộ công nhân viên, thanh niên xung phong Ban Xây dựng 64 đã thực hiện được mục tiêu chiến lược thời kỳ này: Xây dựng những con đường, xây dựng những con người và xây dựng tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào. Giữ vững được giao thông thông suốt giữa Việt Nam, các tỉnh phía Bắc và các vùng giải phóng của bạn Lào với cơ quan Trung ương mặt trận Lào yêu nước tại Sầm Nưa, các đồng chí cán bộ các tỉnh đi họp Trung ương không còn phải qua Việt Nam mà đi bằng mạng lưới giao thông giữa các tỉnh và vùng giải phóng của Lào.
 
          Những công việc thầm lặng và hiệu quả của cán bộ công nhân viên, thanh niên xung phong Ban Xây dựng 64, vì sự nghiệp quốc tế cao cả, vì mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào đã tô thắm thêm những trang sử vàng, góp phần làm rạng rỡ sự nghiệp Giao thông vận tải và tinh thần quốc tế cao cả của Việt Nam. 
 
II. Giúp Cộng hoà DCND Lào xây dựng hạ tầng giao thông và khôi phục đất nước sau chiến tranh (1975 – 1990)
 
          Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975 của Việt Nam và Lào, nước bạn tập trung làm nhiệm vụ xây dựng, củng cố và bảo vệ thành quả cách mạng của mình, nhiệm vụ của Ban Xây dựng 64 cũng chuyển đổi từ đảm bảo giao thông thời chiến sang tập trung xây dựng giao thông vận tải và hạ tầng của cho nước bạn Lào theo các hiệp định ký kết giữa hai Nhà nước. Địa bàn hoạt động được mở rộng trên các tuyến đường đã từng đảm bảo giao thông và một số tuyến mới ở Bắc, Trung và Nam Lào. Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới, Ban Xây dựng 64 phải tự đảm bảo việc cung ứng vận tải toàn bộ hàng hoá, vật tư, nhu yếu phẩm phục vụ sản xuất và đời sống… từ Việt Nam sang  các công trường ở các vùng rừng núi nước bạn.
 
          Ngày 30-11-1982, Bộ Giao thông vận tải đã quyết định số 1916 QĐ/TCCB, chuyển Ban Xây dựng 64 thành Liên hiệp các Xí nghiệp xây dựng giao thông 8 với nhiệm vụ khảo sát thiết kế và xây dựng giao thông giúp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào theo hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào. Mục tiêu của Liên hiệp trong giai đoạn này là tăng dần tỷ trọng thi công cơ giới, giảm dần lao động thủ công. Do đó, hàng ngàn cán bộ công nhân viên, thanh niên xung phong sau nhiều năm xa Tổ quốc đã được chuyển dần về nước để đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật… nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giai đoạn mới. Các thiết bị, dây chuyền thi công cơ giới ngày càng được tăng cường và hoàn thiện đáp ứng được yêu cầu trong sản xuất.
 
          Một dấu mốc quan trọng giai đoạn này là Liên hiệp tiến hành chuyển đổi từ cơ chế tập trung hành chính, thực thanh, thực chi sang cơ chế hạch toán kinh tế. Để tồn tại và phát triển trong cơ chế mới, sản xuất kinh doanh muốn có lãi phải hạch toán kinh tế, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá dây chuyền sản xuất… Trong giai đoạn này, nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật như: thiết kế cải tuyến đèo Fu Lau Cốc (đường 7) rút ngắn 10 km, bỏ qua 9 lần vượt suối; hay sáng kiến thiết kế cải tuyến qua đèo Fu Lau Ma (đường 6) bỏ qua hai “cua bóng đèn”, giảm độ dốc từ 17% xuống còn 6%; sáng kiến áp dụng dàn cày FIAT để thi công nền đường đào đá sít… đã giải quyết được những khó khăn trong sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, đã làm lợi hàng trăm triệu đồng cho Nhà nước.
 
          Trong tổ chức quản lý sản xuất, Liên hiệp đã mở rộng xây dựng và thực hiện hình thức khoán gọn công trình, khoán thời gian theo cung độ, tổ chức quản lý tốt xe máy thiết bị, đưa nâng cao năng suất lao động lên cao, vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế mà Đảng và Nhà nước giao cho. Giai đoạn này Liên hiệp đã khảo sát thiết kế sơ bộ 2.315 km trên các tuyến đường 217, đường 6, đường 7, đường 8, đường 42, đường trục dọc, đường 9… Khảo sát thiết kế kỹ thuật và lập bản vẽ thi công 1962 km đường các loại. Khảo sát thiết kế để cải tạo luồng lạch trên sông Nậm U, sông Mã dài 108 km. Thực hiện đào, đắp 13.186.603m3 nền đường, tính bình quân một năm đạt 879.107m3 so với thời kỳ 1965-1975 bằng 3,3 lần. Rải mặt đường nhựa được 1.726.028m2 trên tổng số 483 km tính bình quân một năm rải mặt được 32 km đường nhựa. Liên hiệp còn đã thi công 59 cây cầu bêtông cốt thép vĩnh cửu với tổng số 2.095 m dài, tính bình quân đạt 4 cây cầu một năm. Ngoài ra còn thi công các cầu thép, cầu cáp, đập tràn, rãnh xây, bến cảng… trên các tuyến đường 217, đường 6 (Sầm Nưa -  Bản Ban), đường 7B (Nậm Cắn – Bản Ban, đường Mường Hiềm, đường Pắc Nậm Nọi – Chi Cho), đường 8B (cửa khẩu Cầu Treo – Nậm Thơn – Phu Háy).
 
          Cùng với xây dựng cơ bản và khảo sát thiết kế, Liên hiệp giao thông 8 đã cử các tổ chuyên gia sang giúp Lào thi công các tuyến đường 9, đường 10, đường nội đô Viên Chăn. Liên kết với trường Đại học Bách khoa xây dựng nhà máy sản xuất đất đèn công suất 150 tấn/năm giúp bạn Lào; cùng với Cục đường sông đóng tàu chở khách trên sông Mêkông tại Viên Chăn.
 
          Ngày 28-4-1989, Bộ Giao thông vận tải ra Quyết định số 813 QĐ/TCCB-LĐ tổ chức lại Liên hiệp các Xí nghiệp xây dựng giao thông 8 thành Liên hiệp các Xí nghiệp xây dựng công trình 8. Tính đến thời điểm này, Liên hiệp là đơn vị duy nhất của ngành Giao thông vận tải Việt Nam đảm nhận công tác xây dựng cơ bản và khảo sát thiết kế giao thông tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
 
III. Chuyển quân về Việt Nam, một số đơn vị tiếp tục ở lại Lào xây dựng công trình (1990 đến nay)
 
          Cùng với sự đổi mới của Đất nước, cuối năm 1989, Liên hiệp đã chuyển một bộ phận về xây dựng đường 8 của Việt Nam, mở đầu cho thời kỳ hội nhập và chiếm lĩnh thị trường xây dựng cơ bản trong nước. Sau 25 năm hoạt động liên tục ở Lào, khi chuyển quân về Việt Nam, đơn vị đã gặp rất nhiều khó khăn, cần phải nhanh chóng khắc phục để tồn tại và phát triển. Hầu hết các đơn vị về Việt Nam đều không có trụ sở điều hành, chưa có nhà ở cho cán bộ công nhân viên. Thiết bị sau 25 năm hoạt động ở Lào đã hỏng hóc, cũ nát, lạc hậu; lao động phần lớn là lao động phổ thông, trong đó nữ chiếm 32%, trình độ văn hoá thấp, sức khỏe giảm sút; địa bàn hoạt động và thị trường mới mẻ trong khi đó các đơn vị trong cùng ngành GTVT đã hoạt động ổn định nhiều năm ở trong nước. Với sự cố gắng vượt bậc, chỉ sau hai năm về Việt Nam các đơn vị thành viên của Liên hiệp đã gây dựng được trụ sở, cơ sở vật chất, dần dần ổn định sản xuất và bước đầu xây dựng được nhà ở cho công nhân viên, tạo điều kiện để ổn định và phát triển lâu dài.
 
          Để bắt nhịp được với công cuộc đổi mới, đòi hỏi Liên hiệp các xí nghiệp xây dựng công trình 8 phải phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Các cán bộ lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý phải nâng cao trình độ và năng lực công tác mới đảm bảo được yêu cầu nhiệm vụ. Trong thời gian này hàng trăm đồng chí được cử đi đào tạo, nâng cao ở các trường đại học, đồng thời Liên hiệp cũng nhận từ các trường đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề hàng trăm kỹ sư, hàng nghìn công nhân kỹ thuật.
 
          Ngày 5-7-1991, Bộ Giao thông Vận tải ra Quyết định số 1291 QĐ/TCCB-LĐ đổi tên Liên hiệp các Xí nghiệp xây dựng công trình 8 thành Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 (Cienco 8). Để tăng thêm năng lực, Tổng công ty đã nhận sáp nhập thêm một số đơn vị mới; thành lập thêm các chi nhánh, văn phòng đại diện; thành lập Trung tâm Đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ giao thông 8, Trung tâm Y tế giao thông 8; thành lập các Ban điều hành dự án. Đến năm 2002, Tổng Công ty đã có 12 thành viên hạch toán độc lập, 1 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 1 trung tâm đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ, 1 trung tâm Y tế, với địa bàn hoạt động khắp các tỉnh thành trong cả nước và ở Lào.
 
          Trong giai đoạn nền kinh tế chuyển dần sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Mối quan hệ hợp tác kinh tế với Lào được chuyển sang hình thức mới là sử dụng các nguồn tài trợ đầu tư của các tổ chức quốc tế cộng với tài nguyên của Lào và các lực lượng lao động kỹ thuật Việt Nam thông qua tổ chức đấu thầu cạnh tranh quốc tế để thi công các công trình xây dựng giao thông vận tải. Đây thực sự là một thách thức lớn đối với Tổng công ty, Tổng công ty đã xác định rõ uy tín không phải tự nó mà có, uy tín cũng có thể phai mờ hoặc mất đi nếu không tự học tập, vươn lên trau dồi nghề nghiệp, toàn thể CBCNV đã làm tất cả để khẳng định uy tín của Cienco 8 giành quyền xây dựng các công trình trong nước cũng như trên đất bạn.
 
          Từ cơ quan văn phòng Tổng công ty cũng như đến các Công ty thành viên, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật lành nghề phải đã nhanh chóng tìm hiểu, nghiên cứu áp dụng các quy trình công nghệ mới , áp dụng vào các công trình đấu thầu quốc tế (quy trình AASHTO). Dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng trước hết cùng với việc tập trung đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại, Tổng công ty đã mặt khác tiến hành liên doanh, liên kết với các đơn vị trong và ngoài ngành để có đủ tăng thêm năng lực về tài chính, công nghệ và các yêu cầu cần thiết để trở thành một nhà tham gia đấu thầu và thắng thầu quốc tế. Lực lượng công nhân kỹ thuật thường xuyên được đào tạo lại và nâng cao tay nghề,… Những giải pháp cụ thể đã làm cho lực lượng sản xuất của Tổng công ty biến đổi căn bản cả về lượng và chất, trong đó trên 75% là lực lượng lao động kỹ thuật (trước kia chỉ là 12 - 15%), đã tạo nên sự biến đổi về chất của lực lượng sản xuất, từng bước tạo đà cho sự phát triển lớn về quan hệ sản xuất.
 
           Năm 1992, Tổng công ty đã nhanh chóng vượt qua nhiều đối thủ để giành phần thắng thầu dự án ADB4 từ Ka Sỉ đến Luông Pha Băng (Lào) trước 29 hãng thầu quốc tế. Thắng thầu đã khó, nhưng tổ chức thi công để đạt hiệu quả còn khó khăn hơn nhiều. Tổng công ty Xây dựng công trình 8 đã từng bước bắt kịp với cơ chế mới, với kỹ thuật và công nghệ mới, thậm chí phải đổ cả xương máu vì bị phỉ tập kích (hy sinh hai kỹ sư, hai công nhân kỹ thuật, một y tá) trong quá trình thi công xây dựng dự án ADB4. Dự án về trước tiến độ một tháng, đảm bảo chất lượng kỹ thuật và mỹ thuật, được chủ công trình - Bộ Giao thông Vận tải Xây dựng và Bưu điện Lào và tổ chức Tư vấn giám sát quốc tế đánh giá cao về năng lực tổ chức thực hiện của Tổng công ty. Qua việc thực hiện thành công dự án thắng thầu quốc tế ADB4, Tổng công ty đã đào tạo được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm trong đấu thầu, quản lý điều hành dự án và đã khẳng định việc giữ vững được thị trường truyền thống tại Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Để tăng cường lực lượng, năm 1993 Bộ Giao thông Vận tải quyết định điều động,sáp nhập 3 đơn vị của Khu Quản lý đường bộ II là: Công ty 210, 242 và 220 về Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8.
ở trong nước, thời gian này Tổng công ty tiếp tục tìm kiếm mở rộng thị trường và đã thắng thầu tham gia xây dựng những công trình lớn như: đường Bắc Thăng Long - Nội Bài, đường 5 (km 47-62), đường 18 (Hải Dương), đường 8A (Hà Tĩnh), đường Mai Sơn – Tà Hộc (Sơn La)...
 
          Thực hiện Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục sắp xếp lại Doanh nghiệp Nhà nước, Bộ Giao thông Vận tải ra Quyết định số 4897 QĐ/TCCB-LĐ ngày 27-11-1995 thành lập lại Doanh nghiệp Nhà nước: Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 8, tên giao dịch quốc tế là Civil Engineering Construction Corporation 8 viết tắt là CIENCO 8. Tổng Công ty đã có những bước phát triển mới, giá trị sản lượng hàng năm tăng: Năm 1997 đạt 618 tỷ đồng, năm 1998 đạt 867 tỷ đồng, năm 1999 đạt 1000 tỷ đồng, năm 2000 đạt 1625 tỷ đồng, năm 2008 đạt 1668 tỷ đồng. CIENCO 8 đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường xây dựng các công trình giao thông, liên tục thắng thầu quốc tế, thực hiện các dự án lớn ở Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào.

          Tại Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, CIENCO 8 đã liên tục thắng thầu và quản lý điều hành thi công có hiệu quả các dự án: đường 6 (Sầm Nưa – Bản Ban), đường thành phố Viên Chăn, dự án ADB 7 (Nam Lào), dự án ADB 8 (từ Cánh đồng Chum Xiêng Khoảng đến biên giới Việt Nam), đường 9 (Lao Bảo – Mường Phìn), đường 18B (Nam Lào từ Atôpư về Pleiku). Tổng Công ty đã xây dựng hơn 800 km đường bộ, hàng trăm công trình cầu cống, sân bay, bến cảng với trị giá trị sản lượng hàng trăm triệu USD.
 
          Tại Việt Nam, CIENCO 8 đã khai thác thế mạnh về thiết bị, công nghệ, cán bộ công nhân chuyên nghiệp, để đấu thầu cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Những năm qua, Tổng công ty đã đấu thầu và thắng thầu nhiều hàng loạt các công trình lớn và điều hành quản lý thi công có hiệu quả như: Quốc lộ 5: đoạn km 93 đến km 106 nguồn vốn JBIC của Nhật Bản bao gồm cả cầu An Dương, Lạch Tray, cầu Niệm. Quốc lộ 1A: Hà Nội đi Lạng Sơn nguồn vốn của ADB gồm 3 hợp đồng là N1 đoạn Lạng Sơn đi đèo Sìn Hồ, N3 đoạn Bắc Giang đi Đáp Cầu, N4 đoạn Bắc Ninh đi cầu Đuống. Hà Nội đi cầu Giẽ nguồn vốn của WB hai hợp đồng là 1A1 và 1A2. Đông Hà đi Quảng Ngãi nguồn vốn của WB hai hợp đồng là hợp đồng 2 Huế đi chân đèo Hải Vân và hợp đồng 4 Tam Kỳ đi Quảng Ngãi. Thành phố Hồ Chí Minh đi Nha Trang hợp đồng R100 nguồn vốn ADB. Dự án 11 cầu Nha Trang đi thành phố Hồ Chí Minh nguồn vốn của OECF. Dự án đường Xuyên á: từ thành phố Hồ Chí Minh đi cửa khẩu Mộc Bài thuộc tỉnh Tây Ninh, cả ba hợp đồng V1, V2, V3 nguồn vốn của ADB. Dự án Quốc lộ 10: bốn hợp đồng nguồn vốn của JBIC là B4 cầu Non Nước, R4 đoạn Nam Định đi Ninh Bình, R2 và R1 (Hải Phòng). Tổng công ty đã tham gia thi công các công trình có nguồn vốn trong nước như Cà Mau -  Năm Căn, Cao Bằng – Pắc Bó, Lai Châu, Sơn La, đường 34 Cao Bằng, Cầu Hồ, đường cao tốc Láng – Hoà Lạc, mặt bằng nhà máy xi măng Nghi Sơn, kè Hoà Duân, cảng Dung Quất, đường trong đảo Phú Quý, quốc lộ 51 (thành phố Hồ Chí Minh - Vũng Tàu) và nhiều công trình khác trên các tỉnh thành trong cả nước.
 
          Tổng công ty đã và đang phấn đấu trở thành một trong những mạnh của ngành Giao thông vận tải với giá trị sản lượng thực hiện hằng năm trên 2.000 tỷ đồng. 
 
          Việc liên tục tăng trưởng bền vững, năm sau cao hơn năm trước, đảm bảo việc làm cho người lao động, đời sống của cán bộ công nhân viên không ngừng được cải thiện và nâng cao; từng bước tích tụ vốn, lành mạnh nền tài chính, giá trị máy móc thiết bị nâng cao trên 700 tỷ đồng… đã khẳng định được vị trí và uy tín của CIENCO 8 trên thị trường xây dựng cơ bản trong và ngoài nước.
 
          Trải qua hơn 10 năm đổi mới tại Việt Nam, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 đã xây dựng được hàng nghìn cây số đường bộ, nhiều công trình cầu cống, kiến trúc, sân bay, bến cảng… với giá trị xây dựng hàng trăm triệu USD. Tổng Công ty và các công ty thành viên đã trụ vững, phát triển trong nền kinh tế thị trường và có sự biến đổi vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. 
 
          Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, các tổ chức Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tổng công ty luôn phối hợp cùng chuyên môn đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao. Vận động công nhân viên chức – lao động Tổng công ty đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu vươn lên trong lao động sản xuất và xây dựng cuộc sống mới. Thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới của đất nước; xây dựng đội ngũ công nhân trong Tổng công ty ngày càng lớn mạnh. Đảng bộ Tổng công ty liên tục được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Công đoàn và Đoàn TNCS HCM đều đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhất.
Phát huy phẩm chất người chiến sỹ tình nguyện năm xưa và  truyền thống đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang, xứng đáng với các những phần thưởng cao quý của hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Lào, cán bộ công nhân viên Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 không ngừng phấn đấu vươn lên, đóng góp công sức xây dựng Tổng công ty trở thành một đơn vị kinh tế mạnh, có đội ngũ lao động kỹ thuật cao, có nền tài chính lành mạnh, có dây chuyền công nghệ hiện đại, có chính sách đúng đắn và một nền văn hoá doanh nghiệp có bản sắc; vững bước trên con đường thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần vào sự nghiệp vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

   Bốn mươi lăm năm xây dựng và phát triển, đã qua một cuộc chiến tranh giải phóng và thời kỳ xây dựng đất nước, hoạt động trên địa bàn Cộng hòa DCND Lào và Việt Nam; Tổng công ty đã được Bộ GTVT quyết định đổi tên 5 lần cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn.

 

            1. Năm 1965: Ban Xây dựng 64 - Quyết định số 597/QĐTC ngày 23/7/1965 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

            - Thời gian: Từ năm 1965 đến năm 1982.

            - Địa bàn hoạt động: Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

            - Nhiệm vụ: Làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Lào mở đường, đảm bảo giao thông, làm công tác hậu cần phục vụ cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ của đội quân Tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa Thét Lào; đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng giao thông vận tải; khảo sát, thiết kế giao thông đượng bộ, đường sông giúp Lào.

            2. Năm 1982: Liên hiệp các Xí nghiệp Giao thông 8 - Quyết định số 1916/QĐ-TCCB ngày 30/11/1982 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

            - Thời gian: Từ 1982 đến năm 1989.

            - Địa bàn hoạt động: Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

            - Nhiệm vụ: Thiết kế, xây dựng công trình giao thông vận tải, hạ tầng cơ sở khác giúp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào theo Hiệp định ký kết giữa hai Chính phủ Việt Nam và Lào.

           3. Năm 1989: Liên hiệp các Xí nghiệp Xây dựng công trình giao thông 8 - Quyết định số 813/QĐ-TCCB-LĐ ngày 28/4/1989 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

            - Thời gian: Từ năm 1989 đến năm 1991.

            - Địa bàn hoạt động: Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

            - Nhiệm vụ: Xây dựng công trình trong ngành GTVT và các công trình khác ngoài ngành ở Việt Nam và Lào.

           4. Năm 1991: Tổng công ty Xây dựng công trình 8 - Quyết định số 183/QĐ-TCCB-LĐ ngày 15/7/1991 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

           - Thời gian: Từ năm 1991 đến năm 1995.

           - Địa bàn hoạt động: Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

           - Nhiệm vụ: Tổng thầu xây dựng công trình trong ngành GTVT và các công trình khác ngoài ngành. Các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc chuyển thành các công ty hạch toán độc lập.

           5. Năm 1995: Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 - Quyết định số 4897-QĐ/TCCB ngày 27/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

           Tên giao dịch quốc tế: Civil Engineering Costruction Corporation (CIENCO8)

           - Thời gian: Từ năm 1995 đến nay.

           - Địa bàn hoạt động: Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

           - Nhiệm vụ: Tổng thầu và đầu tư xây dựng công trình trong ngành GTVT và các công trình khác ngoài ngành. 


                                                                                                                                                                                                                                                               Khuất Đình Huy